Giá vàng
Tỷ giá
Thời tiết
search

HỆ THỐNG VẦN CÁI TIẾNG CƯƠNG GIÁN

CGO_Chiều nay đi học mà thấy vui, thấy yêu tiếng địa phương mình quá đỗi. Bọn mình đang học môn Hệ thống vần cái tiếng Việt, cô chia các nhóm làm về hệ thống vần cái tiếng địa phương mình.


Thế là sau một hồi bàn bạc cả nhóm quyết định lấy tiếng Cương Gián mình làm đối tượng nghiên cứu, trước khi thuyết trình bọn mình còn trình diễn một vở kịch nhỏ, nói toàn đặc sệt tiếng xã ta ( tất nhiên mình đã phải tập cho 3 bạn : một Cẩm xuyên, một Quảng Trị và một Nghệ An nói giọng xã ta, hihiih một việc không phải là dễ dàng…). Nhưng chiều nay khi cả nhóm diễn xong vở kịch thì cả lớp đều tròn xoe đôi mắt một cách ngơ ngác vì không hiểu, thế là cô giáo là người phiên dịch vì cô cũng từng nghiên cứu qua về tiếng Hà Tĩnh, có một số từ cô cũng không hiểu được.

Và đây là bài nghiên cứu của chung cả nhóm về tiếng xã ta, cũng xin lưu ý một chút là việc nghiên cứu này dựa theo quan điểm của Giáo viên dạy chuyên đề, là chỉ nói về phần vần, không nói đến thanh điệu và âm đệm. Có lẽ cũng sẽ có những điểm mà mọi người không hiểu được vì liên quan đến thuật ngữ chuyên ngành ngôn ngữ học. Nhưng Huyền muốn đưa lên để cho mọi người cùng có những hiểu biết chút ít về tiếng xã mình.

Trước tiên xin định nghĩa qua cho mọi người hiểu về khái niệm vần và vần cái tiếng Việt. Theo TS Nguyễn Phương Trang, khi nói đến vần người ta thường nói đến phần thứ hai của âm tiết, sau phần âm đầu. Nó có thể bao gồm cả các yếu tố thanh điệu và âm đệm

Còn vần cái là đơn vị ngữ âm cơ bản nằm trong thành phần cấu trúc âm tiết tiếng Việt, không kể đến âm đệm và được trừu tượng hoá khỏi thanh điệu. Về mặt âm học mà nói, vần cái bao gồm những yếu tố âm sắc được thể hiện từ đỉnh âm tiết cho đến kết thúc âm tiết.

Và sau đây bài miêu tả về hệ thống vần cái tiếng Cương Gián – Nghi Xuân – Hà Tĩnh.

Mở đầu:

- Theo “Tổng quan về hệ thống vần cái Tiếng Việt hiện đại”- Gs.Ts Nguyễn Quang Hồng và Ts. Nguyễn Thị Phương Trang in trên tạp chí ngôn ngữ số 2 năm 2003, hệ thống vần cái tiếng việt gồm 124 vần cái. Trong đó bao gồm các tiểu hệ thống được phân biệt và xác lập theo nhiều tình huống khác nhau.

- Hướng xác lập từ đỉnh vần:

+ Vần cái bắt đầu từ những độ nâng khác nhau của lưỡi.

-         cao

-         vừa

-         thấp

+ Đỉnh vần nguyên âm dòng dưới hay dòng sau, tròn môi hay không tròn môi.

- Hướng xác lập từ cuối vần;

+ Vần đơn (vần mở): không có sự tương phản giữa đỉnh vần và kết vần.

+ Vần phức: có sự tương phản giữa đỉnh vần và kết vần.

Trong vần phức chia ra làm hai hệ thống con.

          - Hệ thống các vần nửa mở: có sự tương phản giữa đỉnh vần và kết vần bán nguyên âm tính.

          - Hệ thống các vần khép: có sự tương phản giữa đỉnh vần nguyên âm tính và kết vần phụ âm tính. hệ thống này tiếp tục phân 2, dựa vào vào tiêu chí mũi hay không mũi (miệng) của kết âm:

                   - Vần khép- tắc mũi (nửa khép): kết thúc bằng m, n, nh, ng.

                   - Vần khép- tắc miệng (thực khép): kết thúc bằng p, t, c, ch.

Chúng tôi lấy cái nhìn này về hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại để áp dụng vào mô tả hệ thống vần cái tiếng việt trong vùng phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh.

Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh là một địa phương nằm ở Bắc Trung Bộ. tiếng ở dây có những đặc trưng riêng về ngữ âm, từ ngữ, nhưng vẫn nằm trong hệ thống TV hiện đại. Điểm khác biệt chủ yếu là về thanh điệu và âm sắc. Mà vấn đề này không nằm trong phạm vi “vần cái”. Vì thế, về cơ bản hệ thống vần cái trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh không mấy khác so với hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại.

1. Hệ thống vần đơn (vần đơn).

- Hệ thống vần đơn bao gồm các vần mở - là loại vần có đặc trưng kết vần thực sự nguyên âm tính.

- Nhìn chung, hệ thống vần đơn trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh có đầy đủ 12 vần đơn như trong hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại.

- Trong hệ thống vần đơn phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh, đặc trưng ngữ âm của các vần đơn đều giống trong Tv hiện đại- cả về độ nâng ( cao, vừa, thấp), đặc trưng về dòng trước/ sau, và đặc trưng tròn môi/ không tròn môi.

- Một số vần phức nửa mở trong hệ thống vần cái Tv hiện đại khi hoạt động trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh thì lại được thể hiện bằng vần đơn. Ở đây có sự chuyển sắc từ sự kết hợp lỏng sang kết hợp chặt.

+ ây, ay -> i

vd:     chấy -> chí

          vây  -> vi

          mày -> mi

          này -> ni

+ âu -> u

vd:     trâu -> tru

  (chị) dâu –> du

          o ni du mô? = cô này con dâu nhà ai?

          nâu -> nu

   (bồ) câu -> cu

          bâu -> bu

          trầu -> trù

          cậu -> cụ

          bầu -> bù

          giấu -> dú

          gầu -> gụ …

- Một trường hợp đặc biệt, có sụ chuyển đổi vần đơn là nguyên âm đôi sang vần đơn là nguyên âm đơn, cũng chuyển từ kết hợp lỏng sang kết hợp chặt.

          ua -> o

vd:  lúa -> ló

2. Hệ thống vần nửa mở.

- Hệ thống vần phức nửa mở bao gồm các vần có đặc trưng kết âm là bán nguyên âm tính.

- Trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh, một số vần thuộc dòng sau- có độ nâng cao( ưi, ươu, ưu) có xu hướng kéo dài về phía trước để thuận tiện cho việc phát âm.

          ươu, ưu -> iu/ iêu

vd:     hươu -> hiu

          bướu -> bíu

          nướu -> niếu

          rượu -> riệu

          khướu -> khiếu

          hưu -> hiu

          mưu -> miu

+ Xét từ phía đỉnh vần ưu và ươu là các vần thuộc dòng sau không tròn môi.

vần ươu có độ nâng của lưỡi cao- chuyển sắc có xu hướng dịch chuyển về phía trước thành iêu- vần thuộc dòng trước không tròn môi.

Vần ưu có độ nâng của lưỡi cao- thuần cũng có sự dịch chuyển cùng hàng về phía trước thành iu- vần thuộc dòng trước không tròn môi, tức là có sự chuyển dịch vần từ dòng sau -> dòng trước.

+ Về độ chạm, sự dịch chuyển trong trường hợp này theo xu hướng chuyển từ tiếp hợp lỏng thành tiếp hợp chặt.

- Trường hợp của: uôi -> oi

ví dụ:           muối -> mói

                   ruồi -> ròi

                   muỗi -> mọi

-> Là sự chuyển dịch từ vần có độ nâng cao- chuyển sắc “uôi” sang vần có độ nâng thấp “oi”. Sự chuyển dịch này trong cùng 1 dòng ( xét từ phía đỉnh vần).

- Trường hợp: ai -> ây : là trường hợp vần chuyển từ tiếp hợp lỏng sang tiếp hợp chặt.

ví dụ:            gái -> gấy

                   trái -> trấy

                   sai -> sây

                   gai -> gây…

- Trường hợp: ôi -> ui

-> Là trường hợp có sự chuyển sắc về độ nâng của lưỡi từ vừa -> cao và chuyển từ kết lỏng sang kết hợp chặt.

ví dụ:            thối -> thúi

                   tối -> túi

                   chổi -> chủi

3. Hệ thống vần phức – khép.

- Hệ thống vần khép( nửa khép và thực khép): là một tập hợp bao gồm các vần có đặc trưng kết âm phụ âm tính.

- Nhìn chung, hệ thống vần khép trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh không khác nhiều so với hệ thống vần khép trong tiếng Việt hiện đại ngoài 2 điểm khác biệt:

          a. Điểm khác thứ nhất:

Các vần khép có đỉnh vần là nguyên âm thuộc dòng sau, tròn môi, độ nâng của lưỡi vừa và thấp; và có kết vần là phụ âm tắc mũi hoặc miệng, có vị trí cấu âm ở gốc lưỡi.

ví dụ:           ông -> ôông

                   ốc -> ôôc

                   oc -> ooc

-> Là có sự khác biệt so với hệ thống vần cái tiếng Việt.

- Trong hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại, các vần “ông, ôc, ong, oc” là các vần thuộc tâm của hệ thống; còn các vần “ôông, ôôc, oong, ooc” là những vần tiềm năng, ít được sử dụng, thuộc biên của hệ thống. Nhưng ở phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh không giống như vậy.

Trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh, các vần “ôông, ôôc, oong, ooc” tần số sử dụng rất cao, dịch chuyển vào tâm của hệ thống. Song các vần “ôông, ôôc, oong, ooc” lại không thấy xuất hiện. Các vần “ông, ốc, ong, oc” trong hệ thống vần cái tiếng việt khi hoạt động trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh đều được thể hiện lần lượt bằng các vần: “ôông, ôôc, oong, ooc”:

ví dụ:           lông -> lôông

                   không -> khôông

                   trong -> troong

                   mọc -> moọc

ông -> ôông

mốc -> môốc

Nói đến vấn đề tâm và biên của 1 hệ thống và sự dịch chuyển các thành phần có nhiều điểm tương đồng thuộc tâm hay thuộc biên -> có thể xảy ra 3 trường hợp:

          + Thành phần thuộc tâm di dời ra biên của hệ thống và ngược lại thành phần thuộc biên của hệ thống di chuyển vào tâm của hệ thống.

          + Thành phần thuộc tâm dời ra biên, nhưng các thành phần biên không chuyển vào tâm.

          + Thành phần thuộc biên dời vào tâm hệ thống, nhưng thành phần thuộc tâm của hệ thống dời ra biên và đi ra khỏi hệ thống ( trường hợp: ông -> ôông, ôc -> ôôc, ong -> oong, oc -> ooc thuộc trường hợp này). Như thế 1 hệ thống vần cái phương ngữ nghệ tĩnh mất đi 4 vần: ông, ôc, ong, oc.

          b. Điểm khác thứ hai:

- Nếu trong hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại, các vần êng, eng, ec, êc là những vần tiềm năng hoặc ít được sử dụng, thì trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh lại sử dụng rất phổ biến. Tuy nhiên, nó được sử dụng đồng thời với các vần ênh, anh, êch, ach chứ không có sự dịch chuyển giữa tâm và biên nữa.

          + Một trường hợp vần ênh, anh, êch, ach trong hệ thống vnầ cái tiếng Việt hiện đại, khi hoạt động trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh lại được thể hiện bằng: êng, eng, ec, êc.

ví dụ:            canh -> keng

                   kênh -> kêng

ếch -> ếc

mách -> méc

          + Nhưng trường hợp “cảnh” trong “ cây cảnh” vẫn được đọc là “cây cảnh” chứ không phải là “ cây kẻng”

                   trái banh” không chuyển thành “trái beng”

                   “mênh mông” không chuyển thành “mêng mông”

                   “ thênh thang” không chuyển thành “ thêng thang”…

          + Trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh có sự biến đổi từ vần “ưng” -> “ơng” (từ 1 vần có độ nâng cao thuần sắc sang một vần có độ nâng vừa).

ví dụ:            trứng -> trớng

                   hứng -> hớng

bưng -> bơng…

Nhưng sự chuyển đổi này không toàn bộ: “nhưng” vẫn là “nhưng” chứ không thành “nhơng”, “lưng” không thành “ lơng”…

ðQua những điểm khác biệt trên ta có thể miêu tả hệ thống vần khép trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh như sau:

- Từ phía đỉnh vần:

Từ hướng miêu tả này, chúng ta sẽ có các vần khép có đỉnh vần có đặc trưng là ngữ âm.

          + Dòng trước không tròn môi: in, it, iêm, iêp, enh, êch, anh, ach

và có thêm cả những vần mà trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt hiện đại chỉ là tiềm năng: êng, eng, êc, ec.

          + Dòng sau không tròn môi: ươn, ươt, ươm, ươp, âng, âc và có thêm vần ơng (ơc vẫn là vần)

          + Dòng sau, tròn môi: ung, uc, uông, uôc… và các vần: ôông, oong, ooc, ôôc.

- Từ phía cuối vần:

          + Nhóm 1: Theo vị trí cấu âm vần khép p/b tương đương với 3 tiểu hệ thống:

-         Vần khép có kết âm môi (-m, -p): im, ip, om, op.

-         Vần khép có kết âm đầu lưỡi (-n, -t): an, at, un,. ut.

-         Vần khép có kết âm cuối lưỡi (-nh, -ch, -ng, -c, -ng,-c): ênh, êch, ưng, ưc, ôông, ôôc, oong, ooc, êng, êc, eng, ec, ơng, ơc.

+ Nhóm 2: theo phương thức cấu âm:

-         Khép tắc mũi/ khép tắc miệng: ip, êt, ach, ooc/ im, ên, anh, oong,…

-         Các vần khép chặt/ các vần khép lỏng: um/uôm, ăn/ an, inh/ iêng, ât/ ơt, ưp/ ươp.

-> Có sự chuyển từ kết hợp chặt sang kết hợp lỏng.

Kết luận:

Trong tiếng Việt hiện đại, số lượng các vần cái là 124 vần. Hệ thống vần cái phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh so với hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại mất đi 4 vần: ông, ôc, ong, oc.

Hệ thống vần cái tiếng Việt trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh chỉ còn lại 120 vần cái, và về cơ bản hệ thống vần cái tiếng Việt trong phương ngữ Cương Gián- Nghi Xuân- Hà Tĩnh được mô tả giống như hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại.
Huỳnh Thu Huyền


    Bình luận (0)         Gửi bạn bè         Bản in
Trang chủ | Diễn Đàn | Quỹ vì người nghèo | Cương Gián Online | Tin tức Nghi Xuân | Bạn đọc viết | Video-Picture | Đăng nhập Email |